TẬT XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM: TRE VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ 21

PHONG DOANH

Đây là lần thứ hai trong cuốn sách nhỏ này tôi lại viết về tre, cây tre Việt Nam. Nói như ai đó, đã ngàn đời nay tre và người là đôi tri kỷ. Tre mọc thành bụi, thành bờ, thành lũy trong mọi làng quê. Nhà thơ Nguyễn Duy trong bài “tre xanh” có câu ” thân gầy guộc lá mong manh, mà sao nên lũy, nên thành tre ơi”.

Người nông dân hàng năm vào dịp cuối hè xuống ao xúc bùn đổ vào gốc tre để tre giữ màu xanh vĩnh cửu, để tre đẻ thêm những lứa măng cho ấm bụi ấm bờ. Đổi lại, tre giúp người làm nên những ngôi nhà mộc mạc, với những vì kèo, cột chống, tường vách từ tre. Những chiếc đòn gánh tre người nông dân bao đời đã dùng để gánh tất cả nỗi nhọc nhằn trên đôi vai gầy trong suốt cuộc đời làm lúa, cho mỗi năm hai vụ lại gánh hạt vàng về chất đầy các bồ, các thúng bằng tre. Cái cối tre mà trên trái đất này, ngoài nông thôn Việt Nam ra ắt hẳn chẳng còn nơi nào có nữa, là một vật dụng biểu tượng cho sự no ấm hạnh phúc dưới mỗi căn nhà. Nó đứng tĩnh lặng phần lớn thời gian ở xó bếp hay góc hiên nhà, dáng phồn thực trong chiếc váy được làm từ tre, từ nứa. Chiếc cối xay giản dị đó bao đời nay còn là chiếc máy biết hát trong mỗi gia đình, vì mỗi khi nó cất lên lời thì đó là lời của bài ca no ấm, làm rạng rỡ các khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi, làm ấm áp lửa rơm hồng trong bếp với hương cơm nồng nàn lan tỏa từ chiếc nồi đang lục bục sôi và lèn chặt căn nhà bằng tiếng cười con trẻ. Chiếc giường tre đơn sơ ấm áp là người bạn tâm tình của mỗi nông dân từ thuở lọt lòng cho đến lúc về cùng tiên tổ. Trong các cuộc chiến giữ nước, giữ làng khỏi các thế lực ngoại xâm, tre vừa là thành lũy, vừa là vũ khí. Người nông dân dùng tre làm gậy tầm vông, hoặc vót tre làm cây chông đánh giặc. Trên trái đất này không biết còn ở đâu có cây gì gắn bó, tận tụy với người như cây tre Việt Nam nữa hay không.

Tre không chỉ quây thành tổ ấm cho mỗi gia đình mà nó còn che trở. Thế gian đã bao lần chao đảo, tre vẫn xanh và giữ cho tâm hồn Việt chẳng bị đổi thay. Một ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt vẫn là dân tộc Việt.

Chiếc giày vải màu chàm không thay được đôi guốc mộc một quai. Rồi một trăm năm Pháp thuộc, tiếng còi tàu lanh lảnh của văn minh công nghiệp phương Tây cũng chẳng làm người nông dân Việt Nam thức giấc. Vải vẫn nhuộm nâu, răng vẫn nhuộm đen, cả một đời người vẫn quen đi đất. Hình như chẳng có nền văn minh ngoại lai nào có thể vượt qua nổi lũy tre xanh. Đó cũng chính là điều làm nên sức sống Việt mãnh liệt bao đời, không thể dập vùi bằng bão tố mưa sa, cũng như tre luôn đứng vững trước phong ba bão táp.

Xét về mặt đa dạng thực vật thì tre thuộc về họ cỏ với đặc trưng không thể trộn lẫn là thân rỗng và chia thành nhiều đốt. Một loại cỏ khổng lồ, cùng họ với những người anh em khổng lồ khác như cau, dừa, thốt nốt, cọ. Có thể, với xuất xứ từ cỏ nên tre có sức sống phi thường, lớn nhanh đẻ mạnh. Tre không dừng ở việc được dùng để dựng nhà, làm các vật dụng hàng ngày. Tre còn cùng người chia sẻ ngọt bùi đắng cay. Măng tre không chỉ nuôi sống người trong những hoàn cảnh khó khăn mà cả khi mâm cao cỗ đầy măng cũng chẳng nỡ chối từ góp mặt. Có một loại cỏ khác mà người Việt chúng ta thường dùng để chế biến thành một số món ăn dân dã trường kỳ. Đó là rau muống. Nhờ Trời, khí hậu nóng ấm nên các loại cỏ mọc tốt tươi, tuy chúng chẳng dinh dưỡng là bao nhưng chúng lành, có thể nuôi người qua cơn bĩ cực. Cũng nhờ có điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên trong các làng quê Việt Nam bao đời nay phổ biến duy nhất một lối sống tự cung tự cấp mà gia đình là một đơn vị. Hình mẫu của một đơn vị sản xuất từ bấy lâu nay có thể hình dung như sau. Đó là một cặp nông dân, một vợ, một chồng cộng bầy con thơ, ít thì bốn, năm, nhiều thì một tá. Mỗi đơn vị sản xuất đó sống trong một mái nhà riêng biệt, được quây kín bằng những rặng tre. Trước cửa nhà là mấy cây cau thẳng tắp, tạo cảnh quan đẹp không kém gì tre, vừa dùng để hứng nước mưa, vừa để lấy quả têm trầu cho mọi khởi đầu câu chuyện. Dưới khóm tre già cuối vườn, người bạn thân thiết nhất của nhà nông đang bỏm bẻm nhai sau một ngày cày bừa vất vả. Bữa cơm đạm bạc bao đời chỉ có cơm độn khoai, độn sắn, tô cà muối mặn, bát canh rau muống hái ở bờ ao, đĩa cá lép bắt ở ngoài đồng rang mặn. Người Việt chúng ta có thói quen bắt chước lẫn nhau. (Thói bắt chước ấy đến bây giờ vẫn thường trực trong mỗi chúng ta. Nếu ta biết phát huy thói quen này để làm công nghệ thì chắc là thành đạt). Nhà bên cạnh nuôi con gì, trồng cây gì thì nhà mình cũng nuôi cũng trồng như vậy. Vì thế, mỗi nhà tự sản, tự tiêu, chẳng mấy khi có nhu cầu trao đi bán lại. Đấy, bức tranh cuộc sống nông thôn Việt nam bao đời nay na ná như vậy. Người nông dân sống giữa các bụi cỏ khổng lồ, che lấp cả tầm con mắt, cấy cỏ lấy hạt nấu cơm, ra bờ ao hái cỏ về để luộc, buổi tối ánh đèn dầu không hắt ra khỏi rậu tre, đèn nhà nào nhà nấy rạng.

Giờ đây người ta luôn nói đến những cụm từ như toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới, cạnh tranh toàn cầu Trái đất trở nên chật chội vì tham vọng của con người đã trở thành mối hiểm họa nội tại khôn lường nhân loại đã bị tiêm nhiễm chủ nghĩa tiêu xài đến mức trở thành con nghiện, liệu còn ai có thể đứng ngoài trào lưu toàn cầu hóa ấy, cái trào lưu mà người ta thường ví với làn sóng thứ ba. Nói một cách chân thành, nếu đứng được ngoài vòng xoáy ấy thì cũng đáng để đứng ngoài vì một cuộc sống bình an, gần gũi và hòa đồng với thiên nhiên. Nhưng, tình thế bây giờ cũng gần giống như giữa thế kỷ 19, khi đó ông cha chúng ta muốn nước nhà độc lập, muốn sống bình yên dưới rặng tre xanh nhưng xu thế xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc khiến đế quốc Pháp đã không mời mà đến. Bây giờ khái niệm độc lập đã trở nên ngày càng mờ nhạt. Nếu ta muốn giếng nước của ta trong sạch, bầu không khí của ta trong lành thì điều đó cũng không còn trong tầm kiểm soát của riêng chúng ta vì mưa a xít đang là toàn cầu, ô nhiễm khí quyển không giới hạn ở riêng từng châu lục. Vì vậy, làn sóng lần này sẽ dữ dội, tre Việt Nam chắc cũng không thế đảm đương nổi nhiệm vụ “bảo toàn tính bất biến của tâm hồn và văn hóa Việt” như các lần trước đó. Hội nhập là một tất yếu của thời đại. Điều đó cũng có nghĩa là chúng la phải chấp nhận các qui luật của kinh tế thị trường, một luật chơi mà cha ông chúng ta khinh miệt, còn chúng ta mới được làm quen nhưng vẫn mang trong mình theo hội chứng di truyền những thói quen những tính cách không phù hợp với nền kinh tế dựa trên cạnh tranh, nhất là trong điều kiện phải cạnh tranh với những người đã đi trước dân mình hàng nhiều thế kỷ. Tôi hay nghĩ với nhiều trăn trở về khả năng thích nghi của dân tộc ta với hoàn cảnh mới này. Thẳng thắn mà nói, dân ta có nhiều đức tính tốt đẹp. Tuy vẫn biết dân mình rất có cảm tình với việc được khen, nhưng khen, nhất là tự khen thường làm cho con người ngái ngủ. Vì vậy, chúng ta cũng cần biết mình là ai, ở đâu so với người ngoài để mà cố gắng. Thế giới đã nói nhiều đến sức mạnh văn hóa của các dân tộc. Cuộc chiến cạnh tranh kinh tế lần này đòi hỏi dân mình phải lột xác một lần nữa để có một sức mạnh mới, mà sức mạnh lần này phải dựa trên những đức tính, những phẩm chất mang tính thời đại, mà vị trí số một phải là tinh thần năng động và sáng tạo. Cần phải nói thẳng ra rằng, do cái phương thức sản xuất theo kiểu tự sản, tự tiêu của mỗi gia đình nông dân mà bao đời nay đã hình thành trong cha ông chúng ta một số tính cách không thể chấp nhận vì những tính cách đó không ít thì nhiều đang tạo ra những vật cản nội tại khiển nền kinh tế Việt Nam dễ mất đi thế mạnh cạnh tranh. Có thể kể một số tính cách khiếm khuyết chính của người mình như sau:

image 1 Tinh thần cộng đồng yếu kém
2 Khinh miệt kinh doanh
3 Ít cởi mở
4 Nhút nhát, tự ti
5 Tinh tướng
6 Dĩ hòa vi quí
7 Sĩ hão
8 Đố kị
9 Khôn lỏi
10 Dối trá

Ở đây, số thứ tự không ngầm chỉ tính nghiêm trọng mà chỉ có ý nghĩa để tóm tắt các suy luận ở phần tiếp theo bằng sơ đồ “huyết thống” cho dễ theo dõi. Theo cảm nghĩ được nhiều người chia sẻ thì quá trình hình thành những khiếm khuyết kể trên có thể lý giải phần nào như sau. Có hai yếu tố cơ bản có tính quyết định đến sự hình thành của 10 khuyết tật kể trên.

a. Một là, thói quen ăn uống, đúng hơn là chế độ dinh dưỡng của người Việt chúng ta trong suốt thời gian tồn tại và phát triển chủ yếu dựa trên nền các thức ăn có nguồn gốc thực vật. Cho đến tận hôm nay, nhiều người dân nước ta sống tại các vùng nông thôn, kể cả các vùng không thiếu lương thực, vẫn cho rằng, điều quan tâm số một của bữa ăn là phải no, nghĩa là chất bột phải đủ để mất đi cái cảm giác đói. Thức ăn vẫn là thành phần phụ, mà nếu có thì cũng phần nhiều là rau, là củ. Điều này đã được nhắc đến ở trên một cách trào phúng rằng, người Việt chúng ta từ lâu đã sống giữa các bụi cỏ khổng lồ (tre, cau, dừa), ăn các sản phẩm cũng từ cây cỏ (lúa, măng, rau muống). Cái chế độ dinh dưỡng dựa trên nền thực vật, thiếu đạm triền miên ấy có thể là nguyên nhân chính dẫn đến tinh cách khá nhút nhát có phần tự ti của chúng ta. Mà một trong những hậu quả của tính nhút nhát, tự ti ấy là lối ứng xử thiên về kiểu dĩ hòa vi qui, an phận thủ thường. Cái cách ứng xử đó làm cho con người dễ trở thành thụ động, mất đi gần hết sự nhiệt tình thúc đẩy tinh thần năng động sáng tạo, một yếu tố có tính quyết định đến sự tiến bộ xã hội ở mọi nơi, mọi lúc. Không biết có phải chính sự thiếu chất đạm triền miên đã là nguyên nhân chính dẫn đến sự trì trệ trong cách tư duy của ông cha chúng ta, khiến xã hội ít cỏ sự tiến bộ trong những năm dài phong kiến hay không. Tôi không đủ kiến thức về sinh vật học, nhân chủng học, tâm lý học để khẳng định điều phát biểu về mối liên quan giữa chế độ ăn uống và tính thụ động của con người như trình bày ở đây là có cơ sở hay không có cơ sở hoặc đúng đến mức nào. Nhưng từ quan sát thực tế, không chỉ giới hạn trong thế giới con người, tôi có cảm giác mối liên hệ ấy phần nào là có cơ sở.

b. Yếu tố quyết định thứ hai chính là phương thức canh tác tự sản, tự tiêu của mỗi gia đình nông dân Việt Nam từ bao đời nay đã kiến tạo nên nhiều tính cách liệt kê trong bảng tổng kết ở trên. Tính cộng đồng yếu kém là hệ quả đầu tiên của phương thức sản xuất tự cung tự cấp.

Nói đến tính cộng đồng ở đây là nói đến sự hợp tác trong việc thúc đẩy sản xuất. tinh thần đoàn kết vì mục đích chung trong phát triển kinh tế. Điều này không có gì mâu thuẫn với những khẳng định rằng dân ta có tinh thần đồng tâm hiệp lực, anh dũng trong cuộc chiến chống thiên tai hay chống giặc ngoại xâm. Tại những thời điểm, những tình huống mà cả cộng đồng phải đối mặt với sự lựa chọn giữa sự sống và cái chết thì mục tiêu phải sống đã đoàn kết được tất cả mọi người nông dân Việt Nam. Trong những trường hợp như vậy, người Việt chúng ta thể hiện được tinh thần đoàn kết dân tộc, cùng chung một mục tiêu, sẵn sàng hy sinh cho nhau và vì nhau. Nhưng, khi đã an bình thì mỗi người lại chui vào cái tổ kén “nhà mình với thói quen chỉ chăm lo cho nồi cơm manh áo của riêng mình như một lẽ thường tình phải vậy. Phải chăng đây cũng là nguyên nhân chính khiến nhà nước phong kiến Việt Nam chưa bao giờ thật sự hùng mạnh trong những khoảng thời gian hòa bình để đủ sức ngăn đe kẻ thù xâm lược phương Bắc. Ngày nay, một biểu hiện vô cùng thất vọng và rất đáng lo ngại khi mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam không biết đặt lợi ích của đất nước lên hàng đầu trong làm ăn, buôn bán với các công ty nước ngoài. Họ sẵn sàng bán rẻ quyền lợi của các doanh nghiệp bạn, nếu thấy mình có lợi, mà chữ mình ở đây không hiếm khi chỉ là một cá nhân hay là một nhóm.

Một con đẻ trực tiếp khác của cung cách tự sản tự tiêu là thói quen miệt thị kinh doanh, nhất là kinh doanh thương mại. ông cha ta đã xếp những người làm kinh doanh ở bậc thấp nhất trong các tầng lớp xã hội. Những người làm kinh doanh bị coi là những kẻ lười nhác, tham lam, chẳng chịu làm gì, sống bằng buôn gian bán lận. Và không khuyến khích kinh doanh nên không có động lực cho sự ra đời của các phương thức sản xuất tiên tiến khác, và hậu quả là “văn hóa Một ” : một mình, một cuốc, một thửa ruộng, một khoảng sân con tồn tại thường có khi tiếp khách, nhất là với người nước ngoài là biểu hiện của tính cách cởi mở. Đó đúng hơn là kết quả của một sự kết hợp khá phức tạp, một món lẩu của các đặc tính nhút nhát, tò mò và sĩ diện.

Cặp vợ chồng già, một kẹt xỉn, một gàn dở nói trên, đôi uyên ương bảo thủ vả cam phận với cảnh đói nghèo chất đạm cùng với hai đứa con, một đứa ốm yếu về tính cộng đồng (1) đứa thứ hai (2) Chỉ lấy sự phỉ báng kinh doanh làm vui, đã sản sinh ra các hậu duệ với nhiều khuyết tật. Khôi hài nhất có lẽ là trường hợp hai đứa chắt sinh đôi của họ do đứa cháu đích tôn, tức cái thằng ít cởi mở sinh ra. Hai cái thằng chắt khác nhau như nước với lửa về bản chất, thông thường không thể sống chung với nhau dưới một mái nhà. Thế mà chúng lại là cặp song sinh cùng một phôi, sống quấn quýt bên nhau như hình với bóng. Thằng anh tên là Nhút nhát, tự ti (4), còn thằng em lại vô cùng lém lỉnh, coi trời bằng vung, luôn tự mãn, khinh thường thiên hạ. Đó làthằng Tinh tướng (5) người bố ít nói, chẳng mấy khi có nhu cầu giãi bày tâm sự với ai sinh ra đứa con tự ti thì cũng dễ hiểu theo qui luật di truyền. Nhưng, có một đứa con tinh vi mà lại song sinh với người anh nhút nhát thì cũng hơi khó hiểu. Song, nếu suy nghĩ sâu hơn một chút thì lại thấy điều đó cũng chẳng có gì khó hiểu. Bởi vì, một khi người thân sinh ra nó ít cởi mở, luôn có tư tưởng hướng nội thì ông ta sẽ không biết thiên hạ ra sao, thấy vòm trời chỉ nhỉnh hơn khoảnh sân nhà mình chút đỉnh nên lầm tưởng mình là thứ tinh túy nhất. Mà đã nghĩ như vậy thì cũng sẽ di truyền được vậy. Vì thế mà thằng Tinh tướng đã sinh ra như một hậu quả của sự thiếu cọ sát, thiếu giao du thiếu chia sẻ nên chẳng biết được ai ngoài mình, bởi lẽ người bố chẳng khi nào ra khỏi làng quê, còn khi ở trong sân thì tầm nhìn bị lũy tre che khuất. Buồn một nỗi là thằng Nhút Nhát lại được bố phân làm việc xã giao, còn thằng Tinh tướng lại lo công việc bếp núc trong nhà. Vì thế, thằng Tinh tướng lại càng tinh tướng vì chẳng được tiếp xúc với người ngoài. cònthằng Tự ti lại càng nhút nhát vì thấy mình bé nhỏ” khi phải đối mặt với người không cùng nàng”, cùng “tổng”.

Hậu quả là thằng Nhút nhát lại đẻ ra đứa con Dĩ hòa vi quí (6), phải công nhận đứa bé này có cái tâm trong sáng, luôn đề cao cái nghĩa, muốn người với người sống để nhịn nhường nhau. Nếu tất cả mọi người đều nhất trí như vậy thì chắc hẳn chẳng mấy khi có sự mếch lòng, mà giả sử sự mếch lòng hiếm hoi nào đó xảy ra giữa hai con người bất kì thuộc dòng giống cao thượng của bậc Dĩ hòa thì cả hai sẽ giơ tay cung kính như hai đại nhân thường chào nhau khi gặp mặt để rồi cùng khóc một cách chân thành với những giọt nước mắt chứa đầy sự ân hận, ngõ hầu mong người kia tha thứ. Đã là như vậy, nếu Dĩ hòa vi quí không kết duyên với một kẻ trong cùng huyết thống, một kẻ có tâm địa xấu xa, mà ta sẽ nói đến khi điểm mặt những đứa con của kẻ song sinh với Tự ti sinh ra. Kẻ song sinh đó, tức thằng Tinh tướng ông tổ của tính tự phụ, sinh được một trai, một gái. Đứa con trai là niềm tự hào của ông bố tinh tướng vì nó chính là kẻ háo danh với cái tên dân gian thường gọi là Sĩ hão (7), sĩ hão không hề hổ với danh phận của mình, nó luôn hào nhoáng, chẳng ai thấy nó có điều gì xấu bao giờ vì nó biết “tốt đẹp phơi ra, xấu xa đậy lại”, sĩ hão đến mức nhiều khi mất luôn cả lí trí. Nhưng thật trớ trêu, nó luôn là niềm mơ ước của mọi người trong cùng vọng tộc, vì nó luôn coi học để làm quan là lẽ sống. Đứa con gái của Tinh tướng tên là Đố kị ( 8), vì cha nó tinh tướng nên cứ thấy ai có vẻ hơn mình là ông không chịu được, quyết cản đường để họ khỏi vượt mình. Cha nào con ấy. Cái Đố kỵ giống hệt bố Tinh tướng ở cái tính” ứckhông chịu nổi” những kẻ có khả năng qua mặt. Vì thế, nó cũng được cha yêu chiều nhưthằng anh Sĩ hão.

Thật buồn thay bậc đại nhân giàu lòng cao thượng, tức bậcDĩ hòa vi quí lại bị đưa em họ của mình, kẻ ti tiện tên là Đố kị mồi chài lợi dụng, đưa vào cạm bẫy. Nắm chắc được tính nết hiền lành của bậc Đại nhân nên Đố kị đã dễ dàng trở thành bạn trăm năm của Dĩ hòa vi quí. Một mối tình éo le của một Cái tốt và một Cái xấu. Cũng thật không may cho chúng ta, Cái xấu đã chiếm thế thượng phong mà chứng cứ là con Khôn lỏi (9) gã sinh ra từ mối nhân duyên không mong muốn đó. Cái Khôn lỏi nhân danh bố nó ca ngợi sự nhường nhịn, đề cao bác ái để làm cho người ta chẳng thích tranh luận, mặt khác nó thu lời từ sự lặng im đó. Con này quả là một nữ quái, gây nên không biết bao nhiêu nỗi đau lòng cho người Việt Nam ta. Nó là mẫu thân của những kẻ cơ hội, là kẻ bảo trợ cho tất cả những hành vi xảo trá, vô liêm sỉ trong việc trục lợi cho bản thân mình. Mang trong mình dòng máu một nửa của ông nội, tức là cái ông Nhút nhát, một nửa là của kỵ nội, tức là cái ông ích kỷ (không coi trọng lợi ích cộng đồng) nên Khôn lỏi luôn sẵn sàng đút lót, nịnh bợ để xong việc của mình, làm hư hỏng những người thực thi công việc chuyên môn nghiệp vụ, sau đó về nhà thì ấm ức, quát vợ đánh con hoặc than thân trách phận. Khi nào mỗi chúng ta còn bị Khôn lỏi điều khiển thì xã hội còn tràn lan tệ nạn, còn khó trở thành xã hội văn minh.

Tệ hơn nữa, nó còn quyến rũ em ruột kỵ của mình, nghĩa là cái ông hiếu thảo nhất với các cụ tổ của nó, tức là ông Miệt thị kinh doanh vốn dĩ nắm được bí quyết giữ gìn tuổi thanh xuân nên trông chẳng già hơn nó là bao. Trên đời dễ có mấy ai thoát khỏi mưu đàn bà, mà lần này lại là cô Khôn lỏi. Vì vậy, lại một đám cưới như là kết quả của một mối tình éo le, vô đạo đức nữa được tổ chức. Đôi vợ chồng trời đánh đó đã sinh ra một kẻ quái thai với tên gọi là Dối trá (10), mà mọi người thường gọi nó là đồ Vô chữ tín, Con quái vật này có lũ hậu duệ chuyên làm hàng giả, kinh doanh chộp giật, móc mối quan hệ, làm kinh doanh theo lối phỉ báng kinh doanh như ông tổ của chúng đã từng phỉ báng. “Sơ đồ huyết thống” dưới đây sẽ tổng kết mối quan hệ giữa các tính xấu bàn đến ở trên.

imageQuan hệ huyết thống của các thói quen tật xấu
a. Chế độ dinh dưỡng thiếu chất đạm,
b. Phương thức sản xuất tự cung tự cấp;
1. Tính cộng đồng yếu kém;
2. Thói quen miệt thị kinh doanh;
3. Tính ít cởi mở;
4. Tính nhút nhát, tự ti;
5. Tính tinh tướng;
6. Tính di hòa vi quý;
7. Tính báo danh ( sĩ hào)
8. Tính đố kị.
9. Tính láu cá;
10. Tính dối trá.

trên đây là một phác họa vui về mối quan hệ dây mơ dễ má của các thói quen tật xấu của người Việt chúng ta. Phải nói rằng, các tính xấu ấy đã hoành hành một cách trắng trợn trong cái thân hình gày guộc đáng thương vì thiếu đạm của cha ông chúng ta trong một thời gian dài là nhờ có các hủ tục, một yếu tố cộng sinh đồng thời cũng là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho các thói xấu ấy. Ngày nay, phần lớn các hủ tục đó đã bị phân hủy, một phần lớn là do thời cuộc đã đổi thay: Nhưng cũng xuất hiện một thứ cộng sinh mới đang níu kéo và nuôi dưỡng các tính xấu nói trên. Nó chính là sự coi thường pháp luật. Hy vọng chúng ta sẽ nhanh chóng dọn sạch thứ rác rưởi cộng sinh đó để “thân thể Việt Nam” có được sự cường tráng, thanh cao, sống trong một quốc gia mạnh giàu, xứng đáng với sự tin cậy và lòng kính trọng của bạn bè quốc tế.

Tôi không muốn vì hội nhập, vì sự đoạn tuyệt với các thói quen và tật xấu mà chúng ta lỡ để mất tre. Ôi cái cây tre ngàn đời đã sống chết cùng với cha ông, rất thân thiết với mỗi chúng ta, rất nên thơ khi lòng ta yên ả. Mong sao các làng quê Việt Nam trong thế kỷ 21 sẽ vẫn có tre xanh bao bọc, các con đường làng rải nhựa rộng thênh thang nhưng vẫn rợp bóng tre. Và để tre xanh không còn che lấp mắt, các mái nhà tranh sẽ được thay bằng những chung cư, những ngôi biệt thự nhiều tầng để người nông dân đất Việt có thể ngồi ở nhà mình mà vẫn trông thấy khuôn mặt đáng yêu của các anh hàng xóm trong những phút giây trao đổi, chia sẻ về những thời cơ và thách thức mà cạnh tranh kinh tế toàn cầu tạo ra. Hãy để tre trường tồn cùng dân tộc Việt.

Source://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/NgamNghi-VietNam Tre_Viet_Nam_trong_the_ky_21/

Nghị sĩ công dân

TS. NGUYỄN SỸ PHƯƠNG

Nền dân chủ sơ khai đầu tiên trong lịch sử loài người bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, tiếng Hy Lạp gọi là “Δημοκρατία”, có nghĩa nhân dân quyết định công việc nhà nước. Tuy nhiên, lúc đó khái niệm “nhân dân quyết định” cũng chỉ giới hạn vào một nhóm người và loại trừ phụ nữ.

Ngày nay, dân chủ được phân ra dân chủ trực tiếp, nghĩa là mỗi người dân có quyền tham gia trực tiếp vào quyết định của nhà nước (trên thực tế ở cấp trung ương không xảy ra ngoại trừ trường hợp trưng cầu dân ý), và dân chủ đại diện (hay gián tiếp) nghĩa là chỉ những người đại diện do dân bầu ra có quyền đó, như nghị sĩ quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân.

Với dân chủ gián tiếp, ý nghĩa thật sự của nền dân chủ (nhân dân quyết định công việc nhà nước) phụ thuộc hoàn toàn vào mối quan hệ thực tế giữa người đại diện, chính quyền, người dân, và chỉ đạt tới lý tưởng một khi mối quan hệ đó mang bản chất dân chủ trực tiếp – đích phấn đấu của mọi nhà nước dân chủ trên thế giới ngày nay.

Tuy nhiên, không phải cứ có đích tốt là thực thi được, dân chủ là một quá trình vận động tương tự như quá trình sản xuất, cần có giải pháp công nghệ. Trong thời đại hội nhập toàn cầu, công nghệ thực thi dân chủ cũng như mọi lĩnh vực khác, luật pháp, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật… cho phép các quốc gia phấn đấu, đeo đuổi những thành tựu tiên tiến nhất.

Thành tựu công nghệ thực thi dân chủ hiện nay có thể kể đến là “Hội nghị công dân”, được nước Đức áp dụng cho cấp chính quyền địa phương, huyện, thành, do bộ luật cùng tên điều chỉnh, ban hành bởi từng tiểu bang. Theo đó, Hội nghị công dân phải tiến hành mỗi năm một kỳ, do Hội đồng Nhân dân lên kế hoạch, hoặc nếu do 2,5% dân số địa phương thỉnh nguyện thì phải triệu tập trong vòng ba tháng, và Phó hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân chủ tọa.

Mọi công dân có quyền bầu cử đều được quyền dự và phát biểu yêu cầu, đề nghị, chất vấn chính quyền, tương tự như đại biểu quốc hội chất vấn chính phủ ở ta, xoay quanh các chủ đề liên quan tại địa phương, quy hoạch đất đai, phát triển trường học, giao thông công chính, xây dựng cơ sở thể thao, chăm sóc người già, trẻ em…

Luật quy định chi tiết cả chương trình nghị sự: người dự phải trình chứng minh thư, được phát mẫu giấy thống nhất đăng ký phát biểu ghi nhân thân, chủ đề cần nói; chủ tọa thu lại, sắp xếp thứ tự phát biểu theo từng nhóm vấn đề.

Sau khi chủ tọa khai mạc, các ban ngành chính quyền báo cáo tóm tắt phần việc của mình, kế hoạch, kết quả thực hiện và những tồn tại, tiếp theo công dân phát biểu, chất vấn như đã đăng ký, không quá 5 phút/1 diễn giả. Ủy ban cùng từng ban ngành phải trả lời tại chỗ những ý kiến chất vấn; nếu vắng mặt, chủ tọa phải ghi lại câu hỏi chuyển tới họ.

Cuối cùng hội nghị biểu quyết giơ tay từng vấn đề, theo nguyên tắc quá bán, hình thành nên nghị quyết. Nghị quyết này mặc dù không mang tính pháp lý cưỡng chế, chỉ mang tính đề đạt, tư vấn, phản ảnh ý nguyện của dân, nhưng trong vòng ba tháng chính quyền vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý đưa ra quyết định cuối cùng đối với từng vấn đề đã đề đạt, và thông báo bằng văn bản đến từng người dự.

Hội nghị công dân về mặt hình thức có thể coi như tiếp xúc cử tri ở ta, nhưng là một bước tiến về chất, chuyển từ dân chủ gián tiếp, người dân ở vị trí thụ động trông mong vào nghị sĩ, sang dân chủ trực tiếp, đứng hẳn vào vị trí nghị sĩ, chủ động tham gia quyết định công việc nhà nước – lý giải cho việc chính sách nước họ được người dân thực thi nghiêm minh, có ý thức, bởi người dân phải chịu trách nhiệm với chính quyết định của mình, không thể thoái thác đổ cho nhà nước áp đặt.

Công nghệ trên được nước Đức hoàn thiện chi tiết cho mọi điều kiện, ở những thành phố đông dân tới cả triệu không thể có hội trường đủ chỗ, hội nghị công dân được chia nhỏ theo lĩnh vực tới vài chục phiên họp.

Một dạng thức khác của công nghệ trên là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân gửi phiếu xin ý kiến tới từng công dân mình, yêu cầu thông tin cho chính quyền ý kiến của họ đối với từng vấn đề cụ thể ở địa phương theo mẫu in sẵn, dưới dạng câu hỏi kiểu thăm dò xã hội học.

Chẳng hạn, trong tháng 12-2008, từng công dân thành phố Leipzig nhận được phiếu xin ý kiến của Chủ tịch Ủy ban thành phố, hỏi về giao thông, trong năm năm qua họ đã chuyển đổi phương tiện đi lại như thế nào giữa hai thời điểm trước kia và hiện nay, trong số tám loại phương tiện: tàu điện, xe buýt, ô tô riêng, xe gắn máy, tàu hỏa, tàu hỏa nội thành, xe đạp, đi bộ. Lý do thay đổi do giá đắt đỏ, do sức khỏe, do ý thức bảo đảm môi trường, do thuận tiện hơn, do công việc thay đổi, hay còn do nguyên nhân khác. Loại và số lượng phương tiện đi lại của từng hộ, ô tô riêng, ô tô của công ty cho dùng, mô tô, xe ga, xe đạp. Thời gian đi từ nhà đến chỗ đỗ phương tiện, đến chỗ làm việc, dưới 2 phút, dưới 5 phút, dưới 10 phút, hay trên nữa?…

Dạng thức này khác Hội nghị công dân, không có chất vấn, không nghị quyết, và cũng không có hồi đáp của chính quyền, nhưng cùng mục đích là thực hiện dân chủ trực tiếp; tổng kết các câu trả lời của công dân là căn cứ cho hoạch định chính sách của chính quyền; công dân gián tiếp đóng vai trò nghị sĩ.

Công nghệ này cho phép tránh được kiểu dự luật cấm người thấp bé nhẹ cân đi xe gắn máy trên 50 phân khối ở ta với lập luận hạn chế tai nạn, bị phản đối dữ dội, do soạn thảo chủ quan, không có căn cứ dữ liệu, thiếu ý kiến từ chính đối tượng bị luật điều chỉnh – họ cũng là nhân dân!

Công nghệ thực thi dân chủ không chỉ quan trọng đối với người dân trong xã hội mà còn rất đặc biệt đối với doanh nhân trong lĩnh vực kinh tế. Của cải xã hội được làm ra không phải trực tiếp từ nhà nước mà từ doanh nghiệp; một cường quốc kinh tế chỉ ra đời với những công ty, tập đoàn có thương hiệu tầm cỡ thế giới. Chính sách kinh tế, vì vậy, chỉ mang lại hiệu quả thực sự khi nó đặt doanh nhân, người chủ sản xuất vào vị trí nghị sĩ, góp phần hoạch định các chính sách đó – một nội hàm của khái niệm dân chủ trong kinh tế.

Có thể nhận biết nguyên lý trên từ ví dụ ở Đức, doanh nghiệp luôn nhận được phiếu xin ý kiến, mẫu các dữ liệu cần khảo sát, từ chính quyền, từ các cơ quan khoa học, các hội đồng tham vấn kinh tế; tổng hợp ý kiến, dữ liệu thu trở lại bảo đảm căn cứ vững chắc cho việc hoạch định các chính sách, quyết định kinh tế của nhà nước.

Ở ta những sự kiện kinh tế nổi bật trong năm, như thiệt hại mất tới nửa giá gạo xuất khẩu do dự báo sai, hay giải pháp cho kinh tế vỉa hè, hàng rong, lưu thông xe tự chế, định giá xăng dầu, ô nhiễm môi trường, nhiễm độc thực phẩm, nhập siêu… đều có phần nguyên do từ thiếu vai trò nghị sĩ kinh tế của giới doanh nhân, nhà sản xuất, người kinh doanh cá thể.

Nguyên lý nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân, hiện không còn là điều bàn cãi trên thế giới, có chăng chỉ còn công nghệ thực thi khác nhau, và sẽ quyết định đích đến khác nhau, trong đó vai trò nghị sĩ của công dân mang tính quyết định. Khai thác được nó chính là đã huy động được “nội lực” lớn nhất – một khái niệm nức lòng người dân được hiệu triệu nhiều ở ta, nhưng lại thiếu công nghệ thực thi!

Source: Thời báo  Kinh tế Sài Gòn Online

http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Hanh-Dong/Nghi_si_cong_dan/

Thay dổi văn hóa công vụ Việt Nam: Một cách nhìn của người nước ngoài

DAVID MA

Đầu tiên phải nói rằng những gì tôi sắp trình bày chỉ là quan điểm riêng của cá nhân. Tôi không xuất hiện ở đây để liệt kê những việc phải làm; tôi cũng không dạy ai làm gì cả. Hãy coi những điều tôi nói là những lời nói của một ông già, người đã làm việc trong 2 nền công vụ khác nhau qua hơn 3 thập kỷ.

Sau khi tốt nghiệp, tôi làm việc trong nền công vụ Hong Kong và 3 năm sau là nền công vụ Singapore. Công việc đầu tiên của tôi trong nền công vụ Singapore là ở Vụ Quy hoạch của Bộ Phát triển Quốc gia. Đây là một môi trường khác với môi trường mà tôi đã từng làm việc. Những nhà quy hoạch là một nhóm những cán bộ trẻ. Họ thân thiện, nhiệt tình và nghiêm túc trong công việc. Họ biết họ đang làm gì và cống hiến hết mình trong mọi việc. Làm việc với họ là niềm vui của tôi.

Tôi băn khoăn điều gì đã cho họ đạo đức công việc như vậy. Đó không phải là tiền vì nền công vụ Singapore trả lương thấp hơn nhiều nền công vụ Hong Kong. Thực ra, khi Singapore độc lập thi công chức còn bị giảm lương.

Dần dần tôi nhận ra một số điều. Thứ nhất, họ có một tầm nhìn chung – đưa Singapore từ thế giới thứ 3 lên thế giới thứ nhất. Lúc đó Singapore là một quốc gia trẻ, mới giành độc lập trước đó mấy năm. Những nhà quy hoạch có cảm tưởng họ đang tạo ra vận mệnh của chính họ. Suy nghĩ đó khiến họ đam mê công việc của mình. Và họ tin rằng họ có thể làm được điều đó vì họ là những người tốt nhất và thông minh nhất. Họ tự hào về công việc và muốn mọi việc họ làm có chất lượng cao nhất. Qua thời gian, những công chức như họ giúp Singapore xây dựng được cái như những người ngoại quốc gọi là nền văn hóa của chất lượng xuất sắc. Làm thế nào văn hóa này lại hình thành?

Định nghĩa của tôi về văn hóa rất đơn giản: đó là cách chúng ta làm việc. Và những người khác nhau làm việc theo các cách khác nhau. Gần đây, tôi ở tại một khách sạn tư tại một tỉnh của Việt Nam. Tôi gặp 2 chuyên gia tư vấn trong nước mà tôi biết vào bữa sáng. Họ cho tôi hay họ vừa chuyển đến từ một nhà khách của chính phủ. Họ phàn nàn về dịch vụ kinh khủng của nhà khách đó. Thông thường, họ không nhận được dịch vụ như mong muốn, và nếu nhận được thi dịch vụ đó cũng không như họ mong đợi. Không ai trong nhà khách đó quan tâm. Vì thế họ chuyển đến khách sạn tư. Họ cảm thấy rằng thật là vô lý khi phải trả một khoản tiền như nhau mà không nhận được dịch vụ nào.

Tôi mừng vì tôi không phải trải qua cảnh đó. Những người điều hành khách sạn tư làm việc hoàn toàn khác. Khi tôi yêu cầu gì, họ đáp ứng và đáp ứng rất nhanh. Một thứ mà tôi luôn yêu cầu là nước nóng trong phòng để tôi pha trà. Ngày đầu tiên khi tôi đến, sau khi làm thủ tục nhập phòng, tôi yêu cầu một phích nước sôi trong phòng. Sau khi nhận chìa khóa, tôi vào phòng. Ngay khi tôi đặt túi xách xuống, ai đó gõ cửa và đây: phích nước nóng. Tôi ngạc nhiên vì sự đáp ứng nhanh đó không diễn ra một lần mà nhiều lần. Tôi không biết làm thế nào mà họ lại nhanh như vậy. Sau một vài ngày, họ biết thói quen của tôi và tự động mang phích nước sôi lên phòng trước khi tôi trở về phòng vào lúc 6 giờ chiều. Vào thứ Bảy, Chủ nhật, khi tôi không phải đi làm, họ đưa tôi 2 phích nước nóng, một vào buổi sáng và một vào buổi tối mà tôi không cần phải yêu cầu.

Một ngày chủ nhật, tôi ăn trưa trong nhà hàng của khách sạn. Thông thường, họ phục vụ đồ ăn rất nhanh. Hôm đó, họ phục vụ lâu hơn bình thường. Sau vài phút, một người phục vụ đến xin lỗi tôi, giải thích rằng trong nhà hàng đang phục vụ một đám cưới và đầu bếp cần thêm một chút thời gian để chuẩn bị thức ăn. Sau đó, một nữ phục vụ lại đến xin lỗi tôi và chuyển cho tôi một đĩa lạc để giữ cho miệng tôi bận rộn để tôi không phàn nàn. Tôi phải nói rằng tôi không được phục vụ kiểu như thế này thậm chí ở một số khách sạn hàng đầu thế giới.

Điều gì khiến nhân viên ở khách sạn tư này làm việc khác nhân viên nhà khách chíh phủ đến vậy? Tìm hiểu điều này thật thú vị. Khi tôi gặp người quản lý, tôi khen ngợi nhân viên của anh ta làm việc tốt và hỏi anh về cách quản lý. Anh cho biết khách sạn chỉ tuyển người tốt nhất; là những người quan tâm phục vụ khách hàng chứ không phải những người có bằng cấp. Sau khi tuyển dụng họ, khách sạn đào tạo thêm nhấn mạnh vào kỹ năng phục vụ khách hàng. Khách sạn không trả lương quá nhiều, nhưng nếu họ làm tốt họ sẽ được thưởng. Càng nghe, tôi càng thấy nhiều điểm chung giữa nền công vụ Singapore và khách sạn này.

Và tin tốt là: những gì mà 2 tổ chức có thể đã làm, mọi tổ chức khác đều có thể làm.
Điểm chung của họ là gì?

Thứ nhất, họ có tầm nhìn. Khách sạn muốn khách hàng được phục vụ tốt. Singapore muốn trở thành một phần của thế giới thứ nhất. Sau đó họ tuyển dụng những người chia sẻ tầm nhìn đó. Họ không quan tâm đến việc người được tuyển có kỹ năng hay không. Họ quan tâm hơn đến thái độ của người được tuyển. Đó là lý do tại sao khách sạn không tổ chức thi tuyển. Nền công vụ Singapore cũng vậy. Ứng viên chỉ cần qua một cuộc phỏng vấn. Mục đích là đế đánh giá thái độ. Tại sao anh muốn tham gia vào nền công vụ. Anh có làm khách hàng hài lòng không? Anh sẽ làm việc với đồng sự như thế nào? vv… Lý do đơn giản là kiến thức, kỹ năng có thể dễ dàng tích lũy được nhưng thái độ khó thay đổi. Khi bạn có những cán bộ có thái độ đúng, bạn có cơ hội thành công.
Chính phủ Việt Nam cũng có một tầm nhìn: xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, chỉ đặt ra tầm nhìn là chưa đủ. Lãnh đạo chính trị phải hỗ trợ công chức đưa tầm nhìn đó thành hiện thực. Khi công chức không muốn chia sẻ tầm nhìn đó, họ sẽ không làm việc nhiều để biến nó thành hiện thực. Thách thức là tuyển dụng những cán bộ chia sẻ tầm nhìn đó và làm việc hướng tới việc hoàn thành tầm nhìn đó. Thách thức này khó giải quyết được chừng nào nền công vụ Việt Nam còn tuyển dụng cán bộ theo bằng cấp và kiến thức lý thuyến về quản lý nhà nước.

Thứ hai, cả khách sạn và nền công vụ Singapore đều tìm kiếm những con người tốt nhất, những người tự hào về họ là ai và làm gì. Ở nhà hàng trong khách sạn, một người phục vụ hỏi tôi một cách thân thiện rằng tôi từ đâu đến. Tôi trả lời: “Tôi đến từ Singapore và tôi là người Singapore.” Anh ta đáp lại: “Tôi đến từ Việt Nam và là người Ê-đê”. Với cách nói ấy, anh ta không có lỗi gì với niềm tự hào to lớn trong mình. Vì anh ta tự hào là người Việt Nam, là người Ê-đê, anh ta cống hiến hết mình, và yêu cầu đồng nghiệp cũng vậy. Vào bữa sáng, anh đảm bảo rằng mọi chiếc đĩa và ly được đặt đúng chỗ. Và bất cứ khi nào anh ta thấy những chiến đĩa và ly đã được dùng và bỏ quanh, anh ta lại thay chúng. Anh ta không thể chịu được những chiếc bàn đầy ly và đĩa bẩn.

Tuy nhiên, không phải ai cũng được động viên bởi tinh thần phục vụ và sự hài lòng vì làm việc tốt. Tháng 5 năm này, Học viện Hành chính Quốc gia, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương và GTZ phát hành một báo cáo chung “Hệ thống lương hiện nay của nền công vụ Việt Nam”. Tôi xin dẫn một đoạn sau:

“Có một trường hợp cấp cứu trong bệnh viện. Nếu bệnh nhân muốn được đưa thẳng vào phòng cấp cứu mà không phải đợi ngoài phòng đăng ký, anh ta phải đưa cho bảo vệ hoặc nhân viên an ninh 10 ngàn đồng để họ mở cửa cho xe cứu thương vào phòng cấp cứu. Trong phòng cấp cứu, để mượn những vật dụng như chiếu, chăn và gối, anh ta phải đưa cho y tá 5 ngàn nữa. Mỗi lần tiêm mà không cho y tá vài ngàn, anh ta sẽ bị tiêm đau hơn vì bị tiêm ẩu hoặc quá nhanh.”

Dường như, cán bộ trong bệnh viện công đó không được động viên để phục vụ trừ khi họ nhận được ít lợi ích. Chuyện những công chức được động viên chủ yếu bằng tiềng đang tạo ra một loạt các vấn đề khác cho bệnh viện. 2 năm trước, tôi đi thăm một bệnh viện công tại Hà Nội. Ông giám đốc điều hành cho biết rất khó bắt mọi người làm việc ở văn phòng. Mọi người muốn làm những việc có liên hệ trực tiếp với bệnh nhân. Mặc dù làm việc trong văn phòng là một sự thăng chức đối với họ, cán bộ lại thu nhập ít đi vì họ không được nhận quà từ bệnh nhân và gia đình bệnh nhân nữa.

Cách đây không lâu, báo chí địa phương đưa tin một cuộc điều tra dư luận tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả điều tra quá xa so với sự thật đến nỗi mà không ai, trừ cơ quan tiến hành điều tra, tin vào kết quả. Gần đây, tôi đọc một báo cáo điều tra do một tổ chức nổi tiếng ở Việt Nam phát hành. báo cáo có nhiều khiếm khuyết quan trọng. Tôi đã không thể chấp nhận được báo cáo, bạn tôi ở nền công vụ Singapore cũng đã không thể; anh bạn người Ê-đê cũng không nếu biết báo cáo viết về cái gì. Tuy nhiên, 2 tác giá có trình độ giáo dục cáo chỉ đơn giản viết báo cáo mà không để ý đến chất lượng và cơ quan chủ trì báo cáo vui vẻ trả công cho người viết. Những sự việc như vậy phản ánh những gì mà 2 người bạn chuyên gia tư vấn trong nước của tôi nói về cách chính phủ điều hành nhà khách – không ai quan tâm. Không ai quan tâm vì không ai tự hào vì việc bất kỳ ai làm.

Một lý do là xu hướng đào tạo công chức theo cấp của họ chứ không theo chức năng mà họ thực hiện. Vì chức năng của mỗi cấp rất rộng nên không ngạc nhiên là hầu hết những gì một chuyên viên hoặc chuyên viên cao cấp được học đều không được áp dụng vào công việc. Hơn nữa, đào tạo có xu hướng tập trung vào quản lý nhà nước chung chung chứ không vào yêu cầu công việc. Để khắc phục thiếu sót này, Bộ Nội vụ đã áp dụng một số khóa đào tạo kỹ năng ngắn hạn cho công chức và Học Viện Hành chính là nơi tổ chức các khóa này.

Thứ tư, cả khách sạn và nền công vụ Singaopre đều thường xuyên đánh giá cán bộ và khen thưởng cán bộ làm việc tốt. Khách sạn thưởng nhân viên khi khách sạn làm ăn có lãi vì nhân viên làm việc tốt. Tương tự, nền công vụ Singapore thưởng công chức nếu họ làm việc tốt trong năm đánh giá. Chính phủ Việt Nam cũng thưởng công chức nhưng khoản đó thường được coi là một khoản thu nhập thêm chứ không phải là thưởng vì làm việc tốt. Đây là điều mà báo cáo của Học viện hành chính, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương phải nêu lên,

“Thật ngạc nhiên khi biết rằng luôn có mối liên hệ giữa lương và thưởng. Trong một số trường hợp, thưởng được chia đều như là một biểu hiện của chủ nghĩa bình quân. Trong các trường hợp khác, thưởng được trả theo tỉ lệ với lương mà mỗi cá nhân cán bộ, công chức nhận được. Vì thế, những người làm việc lâu cho chính phủ và có lương cao hơn thi được thưởng cao hơn không biết là họ có xứng đáng hay không.”
“Cái gì đo lường được thì mới thực hiện được” (What is measured gets done) có thể là một câu nói lâu đời. Nhưng đến nay nó vẫn còn ý nghĩa. Nếu muốn công chức làm việc tốt, chính phủ phải có một hệ thống để đo lường kết quả hoạt động của họ, khen thưởng những người làm việc tốt và giúp những người hoạt động chưa tốt. Nếu ai cũng được một phần thưởng không cần biết họ làm việc thế nào thi công chức sẽ không coi trọng công việc của họ.

Những gì tôi nói đến giờ không mới đối với Bộ Nội vụ, cơ quan phụ trách các vấn đề công vụ. Các thách thức tương tự và các giải pháp có thể đã được đề cập trong nhiều báo cáo và tài liệu như báo cáo năm 2004 của Bộ trưởng Đỗ Quang Trung “Khảo sát chính sách lương trong khu vực công của Malaysia và Thailand” và tài liệu gần đây của Ông Tran Quoc Hai, một cán bộ của Bộ Nội vụ và một nghiên cứu sinh của Học viện Hành chính, “Thế mạnh của hệ thống công vụ cho cải cách thể chế công vụ tại Việt Nam.” Tuy vẫn nói về những thách thức và giải pháp tương tự hôm nay, chúng ta vẫn thiếu cái gì đó?

Có lẽ cái chúng ta cần là một hệ thống giá trị hiện hữu để gắn tất cả các nhân tố đó lại với nhau. Khách sạn có một hệ thống giá trị mà trung tâm là “dịch vụ”. Nền công vụ Singapore có một tuyên bố giá trị mà trọng tâm là “tính toàn vẹn”, “dịch vụ” và “chất lượng xuất sắc”. Mọi người trong 2 tổ chức trên hiểu những giá trị đó nghĩa là gì và phấn đấu để duy trì các giá trị đó.

Việt Nam cũng có một hệ thống giá trị. Ngay từ năm 1964, Bác Hồ đã nói về một loạt các phẩm chất đạo đức cách mạng. Bác nói: nếu không có giá trị là không có nền tảng. Nền tảng mà Bác nói dựa trên 5 ý tưởng đơn giản:

•Đức – không làm gì có hại cho nhân dân, cho Đảng;
•Chính – cam kết thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của mình;
•Trí – nhận thức và khả năng thực hiện thành công công việc và tránh hậu quả xấu;
•Dũng – sức mạnh và lòng dũng cảm thực hiện các nhiệm vụ khó khăn; và
•Liêm – không mưu cầu địa vị hay tiền bạc.

Về “liêm”, Bác Hồ cũng nói rằng công chức và cán bộ không nên sử dụng cơ chế nhà nước để “ vinh thân phì gia”.

Một số người có cảm giác rằng các giá trị đó ngày nay không còn phù hợp vì Việt Nam không còn là một đất nước chiến tranh và đã hoàn toàn hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, tôi cho rằng 5 giá trị của Bác Hồ vẫn còn nguyên ý nghĩa cho đến ngày nay. Thực ra, tôi cho rằng các giá trị đó vẫn thích hợp trong thế giới ngày càng vật chất hiện nay nơi mà tiền dường như là mọi thứ.

Tôi không biết liệu Học viện Chính trị và Học viện Hành chính quốc gia vẫn dạy công chức 5 giá trị đó hay không. Nếu có thì họ chưa dạy đủ. Họ cần nỗ lực hơn nữa. Họ cần vươn ra hơn để đào tạo nhiều công chức hơn nữa và chuyên sâu đào tạo hơn nữa đề các giá trị đó thấm sâu vào mỗi công chức.

Vun trồng 5 giá trị đó chắc chắn trong mỗi và mọi công chức là rất quan trọng. Việt Nam đã trở thành một phần của thị trường toàn cầu. Không những hàng hóa, dịch vụ mà con người và ý tưởng cũng lưu thông dễ dàng trong nước. Vì xã hội càng trở nên có tiếng nói, đa dạng và uyển chuyển, chúng ta cần một bộ giá trị để gắn kết xã hội. Nền công vụ phải đi đầu trong việc duy trì và đề cao các giá trị đó. Chỉ khi đó những người Việt Nam bình thường mới cảm thấy tự hào về nền công vụ và chính phủ.

Source: Báo cáo chuyên đề tại Hội nghị quốc tế về CCHC tại Việt nam, từ ngày 25 đến 26 tháng 11 năm 2006, Hanoi, Vietnam

http://www.caicachhanhchinh.gov.vn/Vietnam/InterExperience/ReformAreas/1562200701081349000/index.htm

Khái niệm lý luận

LƯU HÀ VĨ

Ở tầm khái quát, việc phân loại các khái niệm trong các sách giáo khoa logic hình thức xưa nay thường dừng lại dưới mấy góc độ:

1. Phân loại theo ngoại diên, gồm có:

Khái niệm chung (vô hạn và hữu hạn).
Khái niệm riêng (đơn nhất).
Khái niệm rỗng (trống).
Khái niệm hợp (tập hợp).

2. Phân loại theo nội hàm, gồm có:

Khái niệm cụ thể và khái niệm trừu tượng.
Khái niệm khẳng định (đương) và khái niệm phủ định (âm).
Khái niệm tuyệt đối và khái niệm tương đối.

3. Phân loại dưới góc độ quan hệ giữa các khái niệm, gồm có:

Khái niệm so sánh được.
Khái niệm không so sánh được.

4. Phân loại dưới góc độ phân loại học, gồm có:

Phân loại tự nhiên.
Phân loại bổ trợ (nhân tạo).

Theo chúng tôi, ngoài mấy góc độ phân loại truyền thống này, có thể và cần phải bổ sung vào các sách giáo khoa logic hình thức một góc độ nữa hết sức quan trọng và cần thiết đó là phân loại theo chiều sâu nhận thức với hai cấp độ: khái niệm kinh nghiệm và khái niệm lý luận.

Được biết tác giả Vương Tất Đạt từng bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ triết học về đề tài Vai trò của khái niệm lý luận. Đáng tiếc, không hiểu vì sao tác giả đã không bổ sung vấn đề khái niệm lý luận này vào cuốn sách logic hình thức viết sau khi bảo vệ luận án (Đại học Sư phạm Hà Nội I phát hành tháng 4/1994). Chúng ta đều biết, từ khi khoa học xuất hiện vào khoảng hai nghìn rưởi năm qua, trong tư duy loài người cùng tồn tại hai cấp độ khái niệm để phản ánh các sự vật, hiện tượng với hai tầm nông – sâu khác nhau và không thể nhầm lẫn được – khái niệm kinh nghiệm và khái niệm lý luận.

Trong cuốn logic hình thức của mình (xuất bản 4 lần tại Nxb Chính trị Quốc gia, từ 1996 đến 1999), tôi đã mạnh dạn bổ sung vào phần phân loại khái niệm với sự phân biệt khái quát giữa hai khái niệm này theo chiều sâu nhận thức như sau:

a. Khái niệm kinh nghiệm là những khái niệm hình thành tự phát và gắn liền trực tiếp với kinh nghiệm sống của mọi người, không cần qua học tập – nghiên cứu. Do đó, khái niệm kinh nghiệm mang nặng tính chất cảm tính, chưa đi sâu phản ánh bản chất và các mối liên hệ tất yếu bên trong của các đối tượng. Ví dụ: nhà, chợ, cây, con, tình yêu, căm thù…

b. Khái niệm lý luận là những khái niệm hình thành gắn liền với những công trình nghiên cứu lý luận của những nhà nghiên cứu lý luận. Các khái niệm lý luận gắn liền với những hệ thống lý luận nhất định. Nếu chúng phản ánh trung thực các mối liên hệ bản chất, các quy luật vốn có của hiện thực khách quan thì những hệ thống lý luận đó chính là các học thuyết khoa học được kiểm nghiệm bằng thực tiễn (hay thực nghiệm). Nếu trái lại, thì đó chỉ là những lý luận giả khoa học và sớm muộn cũng sẽ bị sự phát triển của khoa học và thực tiễn bác bỏ.

Thiết nghĩ, bổ sung như vậy không đơn giản chỉ là bổ sung một tiểu tiết cho thêm phần phong phú trong phân loại khái niệm. Chính cái góc độ hay “lát cắt” tiếp cận cặp khái niệm theo chiều nông – sâu này tự nó đã mang ý nghĩa tuyệt đối cần số thiết để tiếp cận và “tiêu hoá” bất kỳ một khái niêm nào với tư cách một khái niệm hãy còn ở tầm kinh nghiệm hay đã đạt tới tầm lý luận. Thật ra, với quỹ thời gian ít ỏi cùng với yêu cầu khiêm tốn bước đầu đối với môn học logic hình thức đành cho sinh viên nói chung, việc thông tin cho sinh viên về một khoảng cách có thật và đầy ý nghĩa giữa khái niệm kinh nghiệm và khái niệm lý luận như vậy chỉ mang tính chất khái quát. Song, suy ngẫm cho kỹ, chúng ta không thể không ghi nhận giá trị phương pháp luận to lớn và sâu sắc của cách tiếp cận theo hai cấp độ nông – sâu này đối với các khái niệm, đặc biệt là với khái niệm lý luận. Bởi lẽ, một khi được tiếp cận tới chuẩn mực bản chất của nó, vấn đề khái niệm lý luận có thể nói là xuyên thấm và chi phối tư duy logic (từ logic hình thức tới logic biện chứng) và qua đó, chi phối ngày càng mạnh mẽ bằng cách này hay cách khác mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của đời sống xã hội đương thời.

Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, tôi muốn nhấn mạnh một số khía cạnh vừa cơ bản, vừa nóng hổi tính thời sự của vấn đề nêu ra.

Thứ nhất, với tư cách là hình thức cơ bản thứ nhất của tư duy trừu tượng, khái niệm được hiểu là hình thức phản ánh khái quát bản chất các sự vật, hiện tượng bằng những dấu hiệu bản chất xác định của chúng. Rõ ràng, khái niệm được khoa học logic diễn đạt như vậy thì không còn ở tầm kinh nghiệm nữa, mà căn bản đã vươn tới tầm lý luận – khoa học rồi. Đúng như nhận xét xác đáng của nhà logic học Xô viết Đ.P.Gorxki rằng: “Phân biệt những sự vật và hiện tượng khác nhau là một nhiệm vụ căn bản của định nghĩa…” và ông lưu ý ngay, “ở đây, muốn nói đến những định nghĩa khoa học”.

Khi Lênin triết lý rằng, “khái niệm là sản phẩm cao nhất của tư duy”, thì không ai tuỳ tiện coi đó là khái niệm bất kỳ của tư duy bất kỳ, mà phải là những khái niệm đạt tới tầm lý luận đặc trưng cho tư duy lý luận.

Đương nhiên, cuộc sống thì vẫn là cuộc sống.Dù lý luận phát triển tới đâu, kể từ khi có khoa học, vẫn luôn tồn tại sự “chung sống hoà bình” giữa các khái niệm khoa học với các khái niệm kinh nghiệm. Chính sách giáo khoa về duy vật lịch sử đã ghi nhận hai cấp độ nông – sâu của ý thức xã hội nói chung là ý thức đời thường (tức tâm lý xã hội) và ý thức lý luận (hệ tư tưởng). Vậy thì chẳng phải tranh cãi làm khi khẳng định các khái niệm kinh nghiệm thuộc phạm trù ý thức đời thường và các khái niệm lý luận thuộc phạm trù ý thức lý luận. Vấn đề đặt ra cho logic học là, cần sớm ghi nhận sự phân loại hai dạng khái niệm kinh nghiệm và khái niệm lý luận. Hơn nữa, phải có nhưng nỗ lực tổng hợp của cả lôgic hình thức lẫn logic biện chứng để góp phần định hướng đắc lực cho tư duy con người từng bước vượt qua giới hạn của tư duy kinh nghiệm (đặc trưng cho tư duy truyền thống của văn minh nông nghiệp – tiền tư bản), phấn đấu vươn lên tư duy lý luận (gắn liền với văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp).

Thứ hai, cũng như nhiều góc độ phân loại khái niệm khác, trong nhiều trường hợp, sự phân biệt giữa khái niệm kinh nghiệm với khái niệm lý luận chỉ là tương đối. Có điều là, xã hội càng tiến tới văn minh và hiện đại – tức càng đòi hỏi con người tự giác, thì khoảng cách giữa khái niệm kinh nghiệm với khái niệm lý luận, trong nhiều trường hợp, cũng ngày càng rút ngắn. Thật không biện chứng chút nào nếu đồng nhất mọi khái niệm kinh nghiệm với sai lầm (cũng như với chú nghĩa kinh nghiệm) và mọi khái niệm lý luận với chân lý. Trước sau, tiêu chuẩn của nhận thức nói chung, của chân lý nói riêng vẫn là thực tiễn sinh động của đời sống xã hội.

Thứ ba, không thể đồng nhất mọi khái niệm lý luận với chân lý vì bản thân khái niệm lý luận còn có thể và cần phải được phân ra thành hai dạng (đương nhiên, trong nhiều trường hợp, cũng là tương đối) – dạng khái niệm lý luận chân chính – khoa học và dạng khái niệm lý luận giả tạo – phản khoa học. Thực khó mà hình dung hết cái giá phải trả cho sự lẫn lộn giữa bản tính chân chính – khoa học với bản tính giả tạo – phản khoa học ở các khái niệm lý luận, và cũng khó mà hình dung cái giá phải trả cho sự lẫn lộn này trong cuộc sống.

Thứ tư, trong giới hạn của logic học, khái niệm là tiền đề bắt buộc để kiến tạo nên các phán đoán và suy luận. Vì vậy, tính chân – giả của các phán đoán và suy luận trước hết tuỳ thuộc tính chân – giả của các khái niệm. Không ít các lỗi logic của các phán đoán và các suy luận được vạch ra ngay từ các lỗi logic của khái niệm. Quan hệ logic giữa bộ ba (khái niệm – phán đoán – suy luận) như vậy càng có ý nghĩa gấp bội đố i với các khái niệm lý luận. Bởi như trên vừa nói, các khái niệm lý luận, nhất là các khái niệm nền tảng, có vai trò định hướng lớn lao và chi phối từ đầu sự thành bại của cả một chương trình, thậm chí cả một mô hình phát triển xã hội.

Thứ năm, thuộc phạm trù ý thức đời thường – tâm lý xã hội, các khái niệm kinh nghiệm thường kém tính hệ chông. Trái lại tính hệ thống là một đặc trưng rõ nét ở các khái niệm lý luận, vô luận là ở dạng chân chính – khoa học hay ở dạng giả tạo – phản khoa học. Tính hệ thống của một khái niệm lý luận hay của một lý luận phản ánh – hoặc trung thực hoặc xuyên tạc tính hệ thống vốn có ớ bản thân đối tượng được phản ánh, qua đó mà phản ánh trung thực hoặc xuyên tạc cấu trúc nội tại cùng với bản chất thật của đối tượng. Xét đến cùng, chức năng nhận thức tổng hợp của cặp phạm trù logic ngoại diễn và nối hàm của khái niệm không gì khác hơn là phối hợp phản ánh cho được bản chất có thật của một đối tượng xác định, tương ứng với một hệ thống – cấu trúc xác định. Cái khó và phức tạp của tư duy trừu tượng – lý luận là ở đó, cái đặc biệt hấp dẫn của tư duy trừu tượng – lý luận cũng là ở đó. Thách thức thực sự đối với yêu cầu tiếp cận và “tiêu hoá” một khái niệm lý luận và cả một hệ thống lý luận đối với cả người nghiên cứu, người dạy và người học xưa nay nói chung cũng chính là chỗ đó. Đặc biệt, với hệ thống khái niệm – phạm trù triết học Mác – Lênin mang tầm phản ánh phổ quát nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, thì quan điểm toàn diện cùng với cách tiếp cận hệ thống bao giờ cũng được coi là nguyên tắc phương pháp luận hàng đầu của phép biện chứng duy vật.

Thứ sáu, khái niệm lý luận, cũng như mọi khái niệm nói chung, không tự thân xuất hiện, tồn tại, vận động và phát triển (hay mất đi). Xét đến cùng, giá trị đích thực và số phận của một khái niệm là ở khả năng phản ánh đời sống thực tiễn trung thực, chính xác và sâu sắc như thế nào và nhờ đó, nó có khả năng định hướng cho đời sống thực tiễn như thế nào. Cách tiếp cận mácxít – lêninnít duy nhất đúng như vậy đối với mọi khái niệm lý luận và mọi lý luận là hoàn toàn xa lạ với mọi biểu hiện của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa chiết trung mà ảnh hưởng tiêu cực của chúng, vẫn còn trong tư duy của những người cộng sản nói riêng, của ý thức xã hội chúng ta nói chung.

Thứ bảy, theo chúng tôi, đổi mới tư duy không chỉ là điều kiện tiên quyết mang tính đột phá cho công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng từ Đại hội lịch sử lần thứ VI ( 1986), mà hơn thế nữa, yêu cầu bắt buộc này phải được thực hiện song hành với tiến trình đổi mới đầy biến động, với biết bao vấn đề mới nảy sinh và tất yếu sẽ nảy sinh. Đầy rẫy và chằng chịt những mâu thuẫn giai cấp, dân tộc, sắc tộc và tôn giáo với mọi cấp độ từ địa phương, dân tộc tới khu vực và quốc tế trong bức tranh toàn cảnh đương đại của loài người đường như còn quá lạ lẫm với nhiều người đó là sự triển khai vừa ào ạt, vừa đan kết nhau hết sức chặt chẽ của các tiến trình cách mạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá và kinh tế tri thức.

Bối cảnh mới lạ này càng làm cho chúng ta nhớ lại lời dạy chí lý của Lênin rằng, không có lý luận thì xu hướng cách mạng sẽ mất quyền tồn tại và sớm hay muộn, sẽ rơi vào tình trạng phá sản về chính trị. Có nghĩa là, cũng như cảnh báo của Lênin, nếu thiếu “dự trữ lý luận” thì các chính đảng cách mạng chỉ biết “lẽo đẽo theo sau các sự biến”. Và hiển nhiên rằng, những viên gạch tinh thần cho cái “dự trữ lý luận” đó không gì khác hơn là hệ thống các khái niệm lý luận không ngừng được khảo cứu thực sự công phu vá nghiêm túc để lọc bỏ, tích lũy, bổ sung trong vô vàn mối liên hệ qua lại với thực tiễn sinh động.

Thứ tám, một phương châm mang tính nguyên tắc của đổi mới tư duy, như Đại hội VI của Đảng ta nhấn mạnh, là nhìn thẳng sự thật nói đúng và nói rõ sự thật. Từ chiều sâu của mình, sự thật mà các khái niệm lý luận có trách nhiệm lột tả ở đây chính là bản chất của hàng loạt vấn đề sống còn của định hướng xã hội chủ nghĩa với cả mặt chính điện lẫn phản diện của nó. Hình thức nổi cộm của các sự thật này đã được Đảng ta chỉ ra công khai từ nhiều năm qua – đó là “4 nguy cơ lớn” cùng với các, quốc nạn nhức nhối”. Song, cùng với những thành tựu lớn lao cửa công cuộc đổi mới hơn 15 năm qua, có những nguy cơ và quốc nạn không giảm, mà còn nghiêm trọng hơn. Từ chủ đề bài viết này – về vấn đề khái niệm lý luận, tôi thật sự tâm đắc và xin được chia sẻ với những ai tỉnh táo nhất, sớm’ nhận ra rằng, nguy cơ đáng sợ nhất và lại chi phối sâu sắc nhất khả năng và mức độ chiến thắng hay chiến bại trước những nguy cơ và quốc nạn ấy chính lại là nguy cơ tụt hậu về lý luận. Có lẽ, cách nói quá quen thuộc – “lý luận và hoạt động lý luận chưa ngang tầm nhiệm vụ” – là chưa ấn tượng và kém ý nghĩa cảnh báo so với cách nói “nguy cơ tụt hậu về lý luận”. Và, con đường mà tư duy logic dẫn chúng ta đến chiến thắng nguy cơ đặc biệt này chắc chắn phải được lát bằng những viên gạch tinh thần vững chắc là các khái niệm lý luận với tất cả chức năng logic vốn có của nó.

Thứ chín, thiên chức cũng như nguồn sống đặc thù xưa nay của trí thức là lao động trí óc. Hành trang đặc thù của trí thức để đi cùng lịch sử là những khái niệm lý luận. Với tư cách là chân dung trí tuệ của xã hội và lịch sử từ ngày có khoa học, trí thức có thể kiêu hãnh hoặc hổ thẹn bởi các khái niệm lý luận mà lĩnh hội “tiêu hóa” trình bày hoặc tạo ra lần đầu với tất cả thông tin tích cực hoặc tiêu cực có thể có. Tòa lâu đài trí tuệ của mỗi dân tộc và của cả loài người mãi mãi giữ lãi những khái niệm hay hệ thống lý luận chân chính – khoa học.

Những cuộc lột xác sinh học không thể sánh nổi với những cuộc lột xác xã hội, đặc biệt là với tầng lớp tri thức. Với ưu thế học vấn của mình, tri thức nhạy cảm hơn với thời cuộc, suy nghĩ tính toán nhiều hơn và sâu sắc hơn về lợi ích của cá nhân và của cả cộng đồng, và cũng dễ đao động hơn trước các bước ngoặt lịch sử cả về phía hữu lẫn phía tả. Đánh giá trí thức, vì thế, phải thận trọng hơn và tinh khôn.

Song, cũng chính từ lao động trí óc đặc thù này của trí thức một khái niệm lý luận nào đó hay một hệ thống lý luận nào đó mà anh ta trình bày cũng có thể trở thành cái lăng kính phàn chiếu khá tập trung và khá chính xác tư cách tri thức của anh ta là thế này hay thế khác. Chưa bao giờ vấn đề khái niệm lý luận đáng được trí thức quan tâm từ phương diện lôgic cũng như phương diện chính trị – thực tiễn như hiện nay. Sự quan tâm đặc biệt này sẽ góp phần hết sức quan trọng cho việc lựa chọn một con đường tối ưu của tri thức để đi lên cùng đất nước và thời đại. Đáng buồn vì có quá nhiều công trình nghiên cứu của trí thức đã và sẽ được nghiệm thu là xuất sắc và… xuất sắc, mà trong đó, qua hệ thống các khái niệm lý luận được trình bày, vẫn thiếu vắng những trăn trở và tìm tòi, những đột phá và sáng tạo cần thiết.

Để kết luận, xin được nhắc tới triết lý của Lê Quý Đôn – “Phi trí bất hưng” và của Hồ Chí Minh – “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Hy vọng rằng, vấn đề khái niệm lý luận được trình bày khái quát trong bài viết này sẽ góp một tiếng nói lý trí cùng với đội ngũ trí thức cách mạng của chúng ta cống hiến ngày càng hiệu quả hơn cho sự nghiệp phục sinh và chấn hưng dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Source: Tạp chí Triết học

http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Nhan-Thuc/Khai_niem_ly_luan/

Pháp điển hóa để bảo đảm trật tự của hệ thống pháp luật

ĐẶNG VĂN CHIẾN – PHÓ CN UBPL CỦA QUỐC HỘI

Hệ thống hóa, pháp điển hóa văn bản pháp luật là hoạt động hoàn toàn không đơn giản, đòi hỏi những người tiến hành hệ thống hóa, pháp điển hóa phải hiểu biết sâu sắc về hệ thống pháp luật, phải được trang bị các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc. Bất kỳ nhà nước nào cũng đều coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Một quốc gia đương đại không được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển và hội nhập. Pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là thước đo trình độ phát triển của các thiết chế dân chủ đang tồn tại trong nội tại của một quốc gia. Chính vì vậy, công tác hệ thống hóa, pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật là nhằm bảo đảm cho hệ thống pháp luật được thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo, mâu thuẫn, bảo đảm minh bạch, cụ thể và đáp ứng kịp thời các yêu cầu của xã hội khi có sự thay đổi.
Ở Pháp, cách đây 15 năm, người ta rất chú ý tới công tác pháp điển hóa và đã đưa ra được những khuôn mẫu nhất định. Nhưng thực ra ở Pháp, Bộ luật Napoleon năm 1804 mới là một ví dụ điển hình về công tác pháp điển hóa. Với Bộ luật này, người ta nhìn nhận Naponeon không những là một vị tướng giỏi mà còn là một luật gia giỏi trong lĩnh vực luật dân sự với vai trò là kiến trúc sư của một trong những bộ luật dân sự có ảnh hưởng đến nhiều hệ thống pháp luật trên toàn thế giới. Ở Việt Nam thì như thế nào? Qua những công trình nghiên cứu của các chuyên gia Việt Nam cho thấy từ thời nhà Lý (1010), Việt Nam đã có một công trình mang dáng dấp của pháp điển hóa, đó là Bộ hình thư. Đến thời nhà Trần, chúng ta đã có Bộ Hình luật thư.  Đời nhà Lê có Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức). Gần đây nhất, dưới chính thể phong kiến, chúng ta có Hoàng Triều Luật lệ hay còn gọi là Bộ luật Gia Long. Như vậy, trong lịch sử nước ta, dưới các triều đại phong kiến, Việt Nam đã có các công trình mang tính chất pháp điển hóa. Những công trình này là tập hợp các quy định pháp luật, kể cả luật tục, luật thành văn và những kinh nghiệm tiếp thu của pháp luật nước ngoài (chủ yếu là pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Hoa). Trong điều kiện hiện nay, các công trình pháp luật trên vẫn còn nguyên giá trị nghiên cứu, tham khảo. Nó chứng tỏ một điều rằng ông cha ta đã nhận thức được pháp điển hóa là một công việc rất cần thiết cho một quốc gia, một chế độ, để bảo đảm cho một nền thịnh trị của một quốc gia. Nhìn lại lịch sử, chúng ta tự hào vì đã có những công trình pháp điển hóa, pháp điển hóa trở thành truyền thống trong lịch sử lập pháp của Việt Nam.

Hội thảo về pháp điển hóa (diễn ra ngày 12-13.12 tại Lâm Đồng) do Ban Công tác lập pháp của UBTVQH tổ chức là một nội dung trong khuôn khổ hợp tác với Dự án hỗ trợ thể chế (ISP) do Liên minh châu Âu tài trợ. Mục tiêu tổng thể của Dự án này là đóng góp vào sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam, hỗ trợ các cải cách đang được tiến hành nhằm hướng đến một nền quản trị minh bạch, có trách nhiệm và mục tiêu cuối cùng là góp phần xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Một trong những mục tiêu cụ thể của Dự án là hỗ trợ về mặt kiến thức, kinh nghiệm để tiến hành pháp điển hóa hệ thống pháp luật Việt Nam, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của QH, các cơ quan của QH và bộ máy giúp việc cho Quốc hội.

Khi nhà nước dân chủ nhân dân ra đời, tại Quốc hội Khóa đầu tiên (1946), công tác pháp điển hóa vẫn tiếp tục được thực hiện như một truyền thống tốt đẹp. Cho đến nay, trong hệ thống pháp luật của chúng ta đã có 219 luật, bộ luật và 198 pháp lệnh được ban hành. Các văn bản đều có các chương, mục, điều khoản cụ thể. Bên cạnh đó, chúng ta còn có một hệ thống đồ sộ các văn bản của Chính phủ, các bộ, ngành, các văn bản liên tịch… Những văn bản lớn như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hàng hải (những văn bản này đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi ít nhất một lần) là những công trình mang tính pháp điển hóa rất cao. Xét cho cùng, các văn bản của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nhưng không phải chỉ do mình Quốc hội quyết định mà phải qua một quá trình, có sự tham gia bắt đầu từ người đưa ra ý tưởng, các cơ quan tham mưu cho Quốc hội trong giai đoạn soạn thảo, thẩm tra, các cơ quan thực thi và cả của những đối tượng chịu sự tác động của văn bản.
Với những con số nêu trên, ta có thể cho đấy là một thành tích. Từ khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương công cuộc đổi mới thì một nguyên tắc được đặt ra, đó là không có pháp luật, không có “luật chơi” thì không thể đi vào nền kinh tế thị trường. Như vậy, phải chăng công tác làm luật chính là pháp điển hóa các quy định trong những lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, biến các quy định đó thành những văn bản có giá trị pháp lý cao, có tầm vóc quốc gia để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội ngày càng phát triển của Việt Nam. Suy rộng ra, công tác pháp điển hóa chính là việc đưa ra những vấn đề của cuộc sống trở thành các văn bản, vào trong các văn bản để toàn dân cùng thực hiện. Đây là yêu cầu, là một khâu của quy trình làm luật.
Mặc dù vậy, đến nay, hệ thống của chúng ta cũng còn có không ít vấn đề. Trong các báo cáo tổng kết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan phục vụ Quốc hội đều cho rằng: Chúng ta đã rất cố gắng để đáp ứng được các yêu cầu hội nhập, để đủ luật cho việc vào WTO, nhưng chúng ta vẫn còn thiếu rất nhiều. Hiện nay, Việt Nam đã có Chiến lược lập pháp đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Đến thời điểm này, hệ thống pháp luật của Việt Nam về cơ bản phải được hoàn thiện đối với tất cả các lĩnh vực. Nhu cầu của xã hội là các vấn đề lớn, liên quan đến quyền, nghĩa vụ của công dân, tổ chức phải được điều chỉnh bằng Luật (không phải là Pháp lệnh, Nghị định) và từng lĩnh vực phải có luật để điều chỉnh. Luật phải được cụ thể, chi tiết. Vậy để có được một hệ thống pháp luật đầy đủ như Chiến lược đã định thì phải biết được hiện tại hệ thống đang thiếu gì, cần gì, điều gì đã lỗi thời, đã thừa. Phải biết được những điều này, chúng ta mới vạch được đường đi, hướng tới đích hoàn thiện cơ bản hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm mục tiêu đẩy mạnh phát triển KT – XH, đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp, hội nhập với thế giới không chỉ về mặt kinh tế mà cả về lập pháp.
Quay lại với hệ thống pháp luật của chúng ta, hiện tại hệ thống vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa thống nhất, còn có sự mâu thuẫn, chia cắt, chồng chéo giữa các văn bản; Tính minh bạch trong hệ thống pháp luật chưa cao. Hệ thống văn bản của chúng ta được cảm nhận như một “mê cung”. Sẽ rất khó để nhận biết được trong một lĩnh vực thì văn bản của Quốc hội kiểm soát đến đâu, văn bản của Chính phủ, các bộ tiếp tục như thế nào? Do đó, nếu không làm pháp điển hóa, chúng ta sẽ không biết được văn bản nào thực sự đang điều chỉnh các hoạt động xã hội (Luật hay là Thông tư). Như vậy, về góc độ thẩm quyền, thứ bậc văn bản, hệ thống pháp luật của chúng ta có vấn đề. Vậy, việc đặt ra ở đây là chúng ta phải xử lý các vấn đề để cho hệ thống của chúng ta có thứ bậc theo quy định của pháp luật. Khi đó các văn bản của các bộ không thể trái với Văn bản của Chính phủ, văn bản của Chính phủ không trái với văn bản của Quốc hội và bản thân văn bản của Quốc hội không thể vượt qua các quy định của Hiến pháp. Đây cũng là cái đích của pháp điển hóa. Tức là chúng ta làm rõ những văn bản nào được ban hành không đúng thẩm quyền, trái với Hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định (kể cả văn bản của cấp thấp nhất là cấp phường, xã). Pháp điển hóa là công việc để bảo đảm trật tự của hệ thống pháp luật.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, pháp điển hóa là một công việc, một nội dung có tính lịch sử, có truyền thống. Pháp điển hóa cần thiết cho mỗi nhà nước với vai trò là công cụ quan trọng hỗ trợ cho việc đặt ra luật, bảo đảm cho sự phát triển hưng thịnh của quốc gia.
Ở Việt Nam, công tác pháp điển hóa luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và trên thực tế đã đạt được một số thành tựu. Một trong những mục tiêu của Chiến lược lập pháp là phải làm tốt công tác pháp điển hóa. Tuy nhiên, như đã trình bày, hệ thống pháp luật của chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế, khiếm khuyết. Cùng một lĩnh vực, có rất nhiều văn bản, do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành. Điều đó dẫn đến tình trạng nhiều lúc không biết vấn đề kết thúc ở đâu, văn bản nào là chính và sẽ thực thi theo văn bản nào. Đòi hỏi chúng ta phải làm công tác pháp điển hóa, để góp phần làm cho hệ thống pháp luật được minh bạch, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
Về các hệ thống pháp điển hóa, các quan niệm về pháp điển hóa trên thế giới, xin được trình bày ngắn gọn, mang tính chất tổng quan như sau:
Theo một số nhà phân tích, ở nhiều quốc gia không coi pháp điển hóa là công tác lập pháp. Tức là nó sẽ không kết thúc bằng việc ban hành một đạo luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có ý kiến cho rằng pháp điển hóa chịu ảnh hưởng rất ít từ phía các cơ quan lập pháp. Đây là công việc có tính kỹ thuật, đơn thuần là việc tập hợp các văn bản (đang có hiệu lực) do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Các văn bản được pháp điển hóa có thể là văn bản của Quốc hội, Chính phủ, các bộ hoặc của chính quyền địa phương do pháp luật quy định được phép ban hành. Ở đây xuất hiện một trong những khái niệm về pháp điển hóa: là một quá trình tập hợp, sắp xếp, hệ thống hóa pháp luật theo một lĩnh vực riêng biệt, theo một ngành luật nhất định để tạo thành một bộ luật hay một bộ pháp điển hóa có tính trật tự. Quá trình này là hoàn toàn cơ học, một sự sắp xếp cơ học. Quá trình này không có vai trò của cơ quan lập pháp, không có vai trò của nhà làm luật, không có vai trò của cơ quan ban hành văn bản. Đây là một quan niệm.
Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng pháp điển hóa có mục tiêu (mục tiêu duy nhất) là hệ thống hóa những quy định đang có hiệu lực một cách trung thực, khách quan (các quy định trong văn bản của Quốc hội, văn bản của Chính phủ, các bộ và các quy định trong văn bản liên tịch). Các văn bản, quy định này được sắp xếp theo một logic, một trình tự do nhà pháp điển hóa xác định. Tuy nhiên, hoạt động này không có tính cách mạng. Tức là không có sự đổi mới, đích chung của mọi quốc gia, là làm thế nào để cho hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống văn bản đối với từng lĩnh vực nói riêng tiếp cận hơn với cuộc sống, gần hơn với nhân dân, thân thiện với người thực hiện hơn. Đây là cái đích mà pháp điển hóa hướng tới. Với ý nghĩa đó, khi một văn bản ra đời thì nhà hoạch định chính sách phải kiểm soát được chu trình hình thành văn bản từ ý tưởng ban hành ban đầu là của ai, được ai soạn thảo và soạn thảo như thế nào, đã lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân nào (ý kiến của người dân, của đối tượng chịu sự chi phối của văn bản, ý kiến của các nhà hoạch định chính sách, ý kiến của các nhà quản lý), việc trình ra Quốc hội, công bố văn bản thực hiện như thế nào? Đây là vấn đề cần được quan tâm.

Source: http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/10/ContentID/28634/Default.aspx